Bàn về vấn đề nợ công ở Việt Nam

43

Câu chuyện “nợ nần” ở những nền kinh tế phát triển, từ “ông lớn” Mỹ cho đến một số nước khu vực sử dụng đồng tiền Euro đang trở thành chủ đề nóng bỏng trên toàn cầu.
Tại Việt Nam, có thể nói, từ những tháng cuối năm 2010, nợ công đã được bàn tới rất nhiều và cho đến thời gian này, câu chuyện nợ công lại một lần nữa được “hâm nóng” và thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp trong xã hội, đặc biệt khi Bản tin nợ nước ngoài số 7 của Bộ Tài chính đưa ra những con số cho thấy quy mô nợ đang tăng. Tạp chí NCKHKT số này nêu ý kiến của một số chuyên gia phân tích và bình luận về vấn đề nợ công ở Việt Nam cũng như tiếp tục bàn về vai trò của cơ quan KTNN trong vấn đề này trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp và đặc biệt có sự trao đổi với nhiều nhà chuyên môn, nhà quản lý cũng như các chuyên gia kinh tế có uy tín. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

“Update” Nợ công Việt Nam
Chậm hơn thường lệ, bản tin về nợ nước ngoài đến cuối năm 2010 của Việt Nam, mãi đến tháng 8/2011 mới được Bộ Tài chính công bố chính thức (theo quy định phải được công bố với độ trễ nửa năm). Điểm đáng chú ý trong bản tin số 7 này là những cập nhật về mặt con số đều cho thấy gánh nặng nợ nần của Việt Nam đang tăng lên . Một lần nữa những lo lắng, quan ngại về nợ công lại được “hâm nóng”.

Bản tin số 7 và những con số
Theo bản tin số 7, tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam (chỉ bao gồm nợ Chính phủ trung ương, địa phương và nợ được Chính phủ bảo lãnh) tính đến cuối năm 2010 đã vượt 32,5 tỷ USD, từ con số gần 27,93 tỷ USD trong năm 2009. Trong con số 32,5, tổng dư nợ nước ngoài của Chính phủ là 27,86 tỷ USD, chiếm 85,7% tổng dư nợ), tương đương 42,2% GDP năm 2010 và tăng 4,6 tỷ USD so với năm 2009, đạt mức nợ cao nhất kể từ năm 2005. Tính chung giai đoạn 5 năm 2006-2010, nợ nước ngoài của Việt Nam đã tăng gấp đôi. Con số 42,2% GDP cũng cao hơn nhiều so với mức 38,8% mà Chính phủ dự kiến cuối năm 2010.

Cũng trong năm 2010, ngân sách phải trả cho các chủ nợ nước ngoài là 1,67 tỉ USD, trong đó riêng tiền lãi và phí hơn 616 triệu USD, tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ USD của năm 2009. So sánh dữ liệu về nghĩa vụ nợ năm 2010 với tổng thu ngân sách cùng năm của Bộ Tài chính, tỷ lệ này là khoảng 5,5%. Tính chung từ nay đến năm 2015, mỗi năm, Việt Nam phải trả nợ cả gốc lẫn lãi khoảng 1,5 tỉ USD. Đến năm 2020, tổng số tiền phải trả là 24 tỉ USD. Bộ Tài chính cũng cho biết, tỉ lệ giữa dự trữ ngoại hối so với tổng dư nợ ngắn hạn đang xuống thấp. Tỉ lệ dự trữ ngoại hối năm 2010 chỉ còn tương đương 187% tổng dư nợ ngắn hạn, trong khi năm 2009 là 290% và năm 2008 là 2.808%.

Một điểm đáng lưu ý là, chi phí vay ngày càng “đắt đỏ” hơn, Bộ Tài chính cho biết lãi suất vay nợ đang có xu hướng tăng lên do nước ta đã bị giảm mức nhận ưu đãi vì gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình. Theo cơ cấu dư nợ nước ngoài của Chính phủ phân theo lãi suất vay thì phần lớn nợ nước ngoài của Chính phủ có lãi suất thấp từ 0% đến dưới 3%. Cụ thể là trong tổng số gần 27,86 tỷ USD dư nợ thì có tới gần 21,85 tỷ USD ở mức lãi suất này, tăng khoảng 11,1% so với năm 2009. Dư nợ các khoản vay có lãi suất thả nổi theo LIBOR 6 tháng và Euro LIBOR 6 tháng chỉ tăng rất ít trong năm 2010, tổng cộng là trên 1,96 tỷ USD. Tuy nhiên, tốc độ tăng của các khoản vay lãi suất cao mới là vượt trội. Có trên 2,15 tỷ USD dư nợ có lãi suất từ 3% đến dưới 6%, tăng tới 43% so với năm trước. Những khoản vay có lãi suất cao từ 6% – 10%/năm trong năm 2010 cũng đã lên tới 1,89 tỉ USD, như vậy lãi suất của năm 2010 đã cao gấp đôi so năm 2009. Hiện các chủ nợ chính của Việt Nam vẫn là Nhật Bản, Pháp, ADB, WB… Các chủ nợ này đã nâng lượng nắm giữ trái phiếu chính phủ Việt Nam lên hơn 2 tỷ USD trong năm 2010 (so với hơn 1 tỷ USD của năm 2009). Rõ ràng rằng, theo sau mỗi bản tin về nợ nước ngoài được công bố đã làm thay đổi rất nhiều nghĩa vụ nợ hàng năm về nợ nước ngoài của Chính phủ.

Năm 2010 cũng ghi nhận thêm khoản nợ mới từ phát hành trái phiếu Chính phủ quốc tế với lợi suất trên 7% mà thời hạn kéo dài trong 10 năm, rơi đúng vào năm 2020, thời điểm mà tổng số tiền Chính phủ phải trả là 24 tỉ USD như nói ở trên.

Cũng sau khoản trái phiếu 1 tỷ USD được phát hành thành công, chủ nợ của Việt Nam cũng có thêm nhiều đối tượng là cá nhân nắm giữ trái phiếu. Tuy nhiên, cơ cấu đồng tiền vẫn khá tập trung, chủ yếu là đồng Yên Nhật, SDR (quyền rút vốn đặc biệt, đơn vị tiền tệ quy ước của của một số nước thành viên Quỹ Tiền tệ Quốc tế – IMF), USD và Euro. Cụ thể, đồng Yên chiếm tỷ trọng lớn nhất 38,8%; tiếp đến là SDR gần 27,1%; và USD, Euro lần lượt là 22,2% và 9,2%. Điều này cho thấy tỷ giá những khi thay đổi có thể thổi phồng khối nợ rất nhanh, và tỷ trọng nghĩa vụ nợ so với thu ngân sách cũng có thể thay đổi theo.

Xu hướng mất giá của VND, đáng quan ngại là không chỉ xảy ra trong năm nay mà đã có “tiền sử” nhiều năm, và vấn đề dường như ngày càng nghiêm trọng. Năm 2007, tỷ giá cuối kỳ tại bản tin nợ nước ngoài số 7 của Bộ Tài chính cho thấy, VND đã mất giá 2,16% so với USD, trong so sánh với năm trước; 2008 là mất giá 4,1%; đến năm 2010 thì lên mức 10,26%.

Như vậy là, qua Bản tin nợ nước ngoài, người ta có thế thấy gánh nặng nợ nước ngoài của Việt Nam đang tăng liên tục cả về quy mô, dịch vụ và điều kiện nợ. Dù Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá nợ nước ngoài của Việt Nam vẫn ở mức an toàn nhưng điều quan ngại giờ không đơn giản là đo xem tỷ lệ nợ công tính trên GDP ra sao mà cần thận trọng với những vấn đề “nhãn tiền” mà nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt như lạm phát cao, bội chi ngân sách, thâm hụt thương mại, thâm hụt cán cân tài khoản quốc tế…

Giới hạn an toàn và rủi ro tiềm ẩn
Gánh nặng nợ công tăng lên cả về lượng và chất là điều dễ dàng nhận thấy qua những con số nợ công mà Bộ Tài chính công bố ở Bản tin số 7. Cũng trong tháng 8/2011, mặc dù hãng định mức tín nhiệm Fitch Ratings công bố duy trì mức tín nhiệm nợ công Việt Nam là B+, nhưng cho rằng, họ chưa thấy sự chuyển biến rõ rệt trong việc cắt giảm chi tiêu công, điểm căn bản để xác định điểm nợ công của Việt Nam. Hãng này cũng cho rằng, nợ công Việt Nam vượt ngưỡng 50% GDP là cao hơn mức trung bình 37% đối với hạng B. Theo nhiều chuyên gia, sự nhìn nhận nghiêm khắc của giới phân tích tài chính trong vấn đề nợ công Việt Nam là xuất phát từ thực tế. Theo Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, năm 2007, nợ công là 33,8% GDP nhưng từ 2008, tỷ lệ này nâng lên 36,2%; 2009: 41,9%; 2010: 56,7%. Năm 2011, Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) dự kiến nợ công sẽ đạt 1.375 nghìn tỷ đồng, tương đương 58,7% GDP. Như vậy, từ năm 2007 đến hết 2011, nợ công đã tăng khoảng 25%, đạt mức trung bình 5%/năm. Với đà tăng này, chỉ cần 8 năm nữa, nợ công Việt Nam sẽ lên tới 100% GDP.

Những con số trên đưa đến nhiều lo ngại về nợ công. Theo bản tin số 7, đa số các chỉ tiêu giám sát nợ nước ngoài xấu đi so với năm 2009. Trực diện nhất là vay nhiều hơn, lãi cao hơn nhưng hiệu quả kém khiến rủi ro của các khoản vay cao hơn.

Tổng dư nợ nước ngoài so với GDP đã ở mức 42,2%, nếu so với tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB) thì thuộc diện vừa phải.Tuy nhiên, tỷ lệ dư nợ nước ngoài so với GDP đang tăng rất nhanh, điều này cũng đồng nghĩa với việc những giới hạn an toàn đang bị đe dọa. Chỉ trong vòng 3 năm gần đây, từ 2008 đến cuối 2010, chỉ tiêu này của Việt Nam đã “nở” thêm khoảng 10 điểm phần trăm, tiến rất gần với trần nợ quy định của Thủ tướng là 50% GDP. Nhưng quan trọng hơn là con số này sẽ tiếp tục tăng nữa chứ chưa dừng lại ở đó.

Một rủi ro đáng lưu ý khác là trong khi khoản nợ nước ngoài tăng lên thì dự trữ ngoại hối của Việt Nam lại giảm đi. Nếu như năm 2007, chỉ tiêu này đang là gấp gần 102 lần, cuối năm 2010 ghi nhận chỉ còn chưa đầy 2 lần. Có hai vấn đề đặt ra với sự thay đổi này, một là dự trữ ngoại hối đang mỏng hơn, và hai là nợ ngắn hạn đang tăng lên nhanh chóng.

Cùng lúc với dư nợ nước ngoài tăng nhanh và dự trữ ngoại hối vơi đi, tỷ giá tiếp nối vào rủi ro nợ của Việt Nam. Theo dữ liệu từ bản tin số 7, tỷ giá cuối kỳ của VND so USD đã giảm khoảng 10,26% trong so sánh năm 2010 với 2009; tương tự, so với Euro giảm 11,14%; so với SDR giảm khoảng 5,53%; và so với đồng Yên tăng 6,43%.

Vấn đề nợ công giờ không chỉ là vấn đề của các nước bạn mà ngay tại Việt Nam, nếu cứ theo đà tăng như hiện nay thì sớm muộn cũng phải đối mặt với bài toán hóc búa như nhiều quốc gia đang phải đối mặt.

Tuy nhiên, điều mà giới chuyên gia lo lắng hơn cả không hẳn chỉ nằm ở tỷ lệ nợ công/GDP như thế nào là ở giới hạn an toàn mà là cơ cấu nợ như thế nào, khả năng trả nợ đến đâu và đặc biệt là hiệu quả, chất lượng đầu tư của các khoản vay. Nói cách khác, chất lượng đầu tư công mới quyết định sự an toàn hay rủi ro của nợ công. Mà đầu tư công kém hiệu quả lâu nay vẫn là vấn đề nhức nhối tại Việt Nam. Đây cũng chính là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra tình trạng lạm phát đang hoành hành hiện nay. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng: Nhìn từ nợ của Việt Nam, thấy rằng hiệu quả của đầu tư công quá thấp, đầu tư 1 đồng nhưng tài sản cố định chỉ tạo được 0,4 – 0,5 đồng… Theo PGS. TS Nguyễn Đình Hòa, KTNN, trước đây, Việt Nam còn nằm trong nhóm nước có thu nhập thấp nên được vay nợ dài hạn 30 – 40 năm với lãi suất ưu đãi. Nhưng nay Việt Nam đã bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình (đạt 1.160 USD/người) thì các khoản vay ưu đãi sẽ giảm dần, thay vào đó là các khoản vay thương mại với lãi suất cao hơn, thời gian ngắn hơn. Điều này đòi hỏi việc sử dụng vốn phải rất hiệu quả, nếu không áp lực trả nợ ngày càng lớn hơn và tác động ngay đến ngưỡng an toàn nợ công. Nghị quyết 11 vừa rồi của Chính phủ cũng đã và đang quyết liệt cắt giảm đầu tư công. Tuy nhiên, hiệu quả cắt giảm chưa cao là một trong những nguyên nhân khiến các giải pháp kiểm soát lạm phát không phát huy được tác dụng. Đã đến lúc, việc cắt giảm đầu tư công phải được thực hiện quyết liệt hơn đồng thời với việc nâng cao chất lượng đầu tư công. Bởi việc này không chỉ làm giảm áp lực lạm phát mà còn hạn chế rủi ro của các khoản nợ công.

Tuy nhiên, theo nhìn nhận của giới chuyên gia, hiệu quả quản lý, sử dụng nợ hiện chưa có sự cải thiện rõ rệt và cần có những giải pháp cụ thể nhằm giải quyết thấu đáo vấn đề này, qua đó mới có thể giảm bớt gánh nặng nợ công. Vấn đề đặt ra ở đây là Chính phủ cần có một chiến lược kiểm soát đầu tư công, giảm thâm hụt ngân sách để có thể kiểm soát được nợ vay nước ngoài. Nếu không tình trạng nợ công sẽ là một vấn đề phức tạp trong dài hạn./.

Lê Quân
Theo Báo cáo kiểm toán năm 2010 về niên độ ngân sách 2009 và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán năm 2009 của KTNN vừa được công bố vào ngày 30/8/2011. Ở nội dung dư nợ Chính phủ và dư nợ nước ngoài của quốc gia cho thấy: Theo báo cáo của Bộ Tài chính đến 31/12/2009, dư nợ của Chính phủ ở mức 705.000 tỷ đồng, tương đương 42%/GDP năm 2009; nếu tính cả nợ trái phiếu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách Xã hội, dư nợ Chính phủ so với GDP năm 2009 là 56,5%. Dư nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 36,5 tỷ USD, chiếm 39% GDP năm 2009
Tính đến thời điểm 2010, nợ công của Mỹ lên đến 90,4% GDP, của khối liên minh châu Âu là 80,3% GDP. Đặc biệt, có những quốc gia có khối lượng nợ lớn như Hy Lạp 123% GDP; Italy 127% GDP, Iceland 142% GDP, kỷ lục thế giới thuộc về Nhật Bản với 197% GDP.

Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán số 47.T9/2011

(SAV)

Bình luận

bình luận